bệnh xuất huyết não ở trẻ sơ sinh
Ở trẻ sơ sinh, hệ đông cầm máu chưa hoàn chỉnh. Cấu tạo thành mạch còn mỏng. Đám rối quanh não thất được tăng tưới máu và là tổ chức non yếu của não nên dễ bị xuất huyết. Giảm Prothombin sinh lí (ngay ngày đầu và ngày thứ 3, thứ 5) sau đẻ do thiếu vitamin K. 2.4.
Xuất huyết não do thiếu vitamin K là một vấn đề nghiêm trọng có thể xảy ra ở một số trẻ sơ sinh trong vòng những ngày đầu sau sinh. Nếu khối máu chảy lớn, gây chèn ép nhu mô não, bệnh có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ hay để lại di chứng nặng nề về sau.
Caduet Tab 5/20, 30's có nguồn gốc xuất xứ tại Đức và được nhập khẩu trực tiếp về Việt Nam. Được cấp phép bởi Cục quản lý Dược - Bộ Y tế. Có tác dụng điều trị tăng huyết áp, bệnh động mạch vành,
Site De Rencontre Internationale 100 Gratuit. I. ĐẠI CƯƠNG Xuất huyết não – màng não là chảy máu não, màng não do vỡ bất kì một mạch máu nào trong não. Nguyên nhân, hình thái, biểu hiện tuỳ theo lứa tuổi. Tỷ lệ tử vong cao và để lại di chứng nặng nề. II. NGUYÊN NHÂN Do thương tổn trong quá trình đẻ Chấn thương sản khoa do Thai quá to so với khung chậu người mẹ Ngôi thai bất lợi. Dây rau cuốn cổ gây khó đẻ. Ối vỡ sớm, ối vỡ non. Đẻ quá nhanh hoặc thời gian chuyển dạ kéo dài. Đẻ phải can thiệp Forcep, giác hút… Tuổi thai Thai non tháng do mạch máu còn yếu, dự trữ vitamin K ít. Thai già tháng cũng là một yếu tố gây chảy máu do thai quá lớn, do suy thoái bánh rau dẫn tới thiếu O2 cho thai. Do đặc điểm của hệ cầm máu Ở trẻ sơ sinh, hệ đông cầm máu chưa hoàn chỉnh. Cấu tạo thành mạch còn mỏng. Đám rối quanh não thất được tăng tưới máu và là tổ chức non yếu của não nên dễ bị xuất huyết. Giảm Prothombin sinh lí ngay ngày đầu và ngày thứ 3, thứ 5 sau đẻ do thiếu vitamin K. Tổn thương thiếu Oxi do rối loạn tuần hoàn, suy hô hấp sơ sinh. Thuốc Sử dụng các dung dịch ưu trương. Dung dịch Natri bicarbonat trong hồi sức sơ sinh quá liều lượng. Nguyên nhân khác Rối loạn đông máu. Bệnh máu giảm tiểu cầu vô căn. Dị dạng mạch não… III. CHẨN ĐOÁN Ở TRẺ SƠ SINH Lâm sàng Chảy máu dưới màng nhện Bệnh thường xảy ra trong những ngày đầu sau sinh do vỡ màng ối sớm, chuyển dạ kéo dài, ngôi thai bất lợi, đẻ non là những nguy cơ của chảy máu trong sọ. Tai biến có thể xảy ra tức thì, cũng có khi muộn, thường xảy ra càng sớm thì bệnh càng trầm trọng. Thể sớm xảy ra ngay sau đẻ; gồm hai thể Thể ngạt trắng Trẻ sơ sinh da trắng bệch, bất động, không khóc, không thở, tim đập yếu, thân nhiệt hạ, thóp lõm. Hồi sức sơ sinh có thể thở trở lại, tim đập yếu, da xanh tái nhưng rồi vẫn tử vong. Thể ngạt tím Trẻ đờ đẫn, bất động, không khóc, không thở, tim đập yếu, tím toàn thân. Hồi sức sơ sinh có kết quả, có thể tránh được tử vong. Thể muộn Thường xảy ra ngày thứ 2, thứ 5 sau đẻ. Trẻ thường có biểu hiện Cơn xanh tím, ngừng thở là triệu chứng hay gặp Sơ sinh tím tái toàn thân. Thở không đều, tim đập yếu. Hồi sức Oxi có thể hồng lại nhưng hay tái diễn rồi tử vong. Cơn co giật toàn thân và các dấu hiệu thần kinh khác thay đổi tuỳ theo BN Hôn mê, li bì. Rung giật toàn thân hoặc co cứng toàn thân. HC màng não - hoặc +. BN có thóp phồng hoặc không, khớp sọ giãn. Dấu hiệu TK khu trú, lác mắt, sụp mi, liệt nửa người. Xuất huyết não thất nhỏ có thể không có biểu hiện triệu chứng thần kinh. Rối loạn cơ lực Lúc đầu có thể tăng trương lực cơ, cổ ngửa ra sau, hoặc cơn dạng Tetani. Sau trương lực cơ giảm, trẻ mềm nhũn. Rối loạn thân nhiệt thân nhiệt tăng > 390 hay giảm Trẻ hôn mê, co giật, tử vong nhanh. Có khi phối hợp với chảy máu trong não, thân não, hành tuỷ. =>Trẻ hôn mê, tỉnh lại rồi lại hôn mê. Các dấu hiệu thần kinh khu trú co giật một bên, liệt nửa người, giãn đồng tử một bên thường có giá trị. Chảy máu dưới màng cứng Thường chảy máu dưới màng cứng mạn tính. Hay gặp ở trẻ đẻ đủ tháng, có cân nặng lớn, gặp ở trẻ 1 – 2 tháng tuổi. Triệu chứng Thiếu máu. Thóp căng phồng, tăng thể tích hộp sọ. Liệt TK khu trú. Điều trị cần dẫn lưu máu tụ dưới màng cứng. Cận lâm sàng Dịch não tuỷ Chọc dò dịch não tuỷ ra máu không đông, đôi khi dịch trong do xuất huyết trên lều tiểu não, xuất huyết ngoài màng cứng. Xét nghiệm dịch não tuỷ thấy Albumin tăng và nhiều hồng cầu. Siêu âm qua thóp Siêu âm qua thóp là XN có giá trị, xác định được vị trí và mức độ tổn thương Độ 1 chảy máu mạch mạc quanh não thất. Độ 2 chảy máu trong não thất. Độ 3 chảy máu trong não thất và gây giãn não thất. Độ 4 độ 3 và xuất huyết trong não. Ở trẻ sơ sinh non tháng, đặc biệt trẻ 38,5 độ à hạ sốt. Hạ nhiệt à ủ ấm. Chăm sóc Để trẻ nằm yên tĩnh, nâng cao đầu 20 – 30o nghiêng phải và sau luôn phải thay đổi tư thế để giảm áp lực nội sọ và giảm chệch bản lề khớp sọ. Trẻ hôn mê phải xoa bóp, thay đổi tư thế, tránh loét, ủng mục. Nuôi dưỡng qua sonde hoặc bằng đường TM. Theo dõi sát diễn biến bệnh để phát hiện các bất thường. Can thiệp ngoại khoa nếu cần Mổ lấy máu tụ nếu có máu tụ khu trú dưới màng cứng hoặc trong nhu mô.
Người bệnh xuất huyết não khi không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây ra những thương tổn vĩnh viễn, thậm chí ảnh hưởng đến tính mạng. Đây là một trong những nguyên nhân gây đột quỵ. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn tìm hiểu thêm những thông tin cơ bản xoay quanh tình trạng này. Tìm hiểu chung Chảy máu não là gì? Nhiều người hiểu xuất huyết não tức là bị chảy máu ở trong não máu thoát khỏi mạch máu và lan ra các vùng lân cận. Tuy nhiên, trong y khoa, xuất huyết não đề cập đến tình trạng chảy máu nội sọ, tức là sự chảy máu xảy ra bên trong các nhu mô não. Để hiểu chi tiết hơn, trước tiên bạn nên biết sơ bộ về các trường hợp chảy máu trong não. Tình trạng chảy máu có thể xảy ra ở nhiều vị trí trong não bộ như sau Xuất huyết màng não xuất huyết dưới nhện Ở trong xương sọ, có 3 lớp màng để bao bọc và bảo vệ các nhu mô não, theo thứ tự từ ngoài vào trong là màng cứng, màng nhện và màng mềm. Tình trạng xuất huyết chảy máu có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào giữa các màng não Xuất huyết ngoài màng cứng chảy máu xảy ra giữa xương sọ và lớp màng cứng. Xuất huyết dưới màng cứng chảy máu xảy ra giữa màng cứng và màng nhện. Xuất huyết dưới màng nhện chảy máu xảy ra giữa màng nhện và màng mềm. Xuất huyết bên trong nhu mô não Dạng này phổ biến gấp hai lần xuất huyết màng não. Ở bên trong nhu mô não có thể xảy ra hai loại xuất huyết Xuất huyết trong nhu mô não tình trạng chảy máu xảy ra ở các thùy não, các nhân nền, thân não hay tiểu não. Tình trạng này mới thực sự được gọi là xuất huyết não. Xuất huyết não thất tình trạng chảy máu xảy ra trong các não thất – những khoang trong não có nhiệm vụ sản xuất, dẫn lưu dịch não tủy. Trong bài viết này chỉ đề cập đến thông tin về bệnh xuất huyết não xuất huyết trong nhu mô não. Khi có tình trạng xuất huyết xảy ra, những mô não được nuôi dưỡng bởi mạch máu này sẽ không nhận đủ máu giàu oxy cần thiết. Bên cạnh đó, máu tràn ra và tích tụ tại một vị trí trong não bộ cũng gây áp lực lên vùng não đó và không cho oxy đến. Nếu lưu lượng máu bị gián đoạn, các tế bào ở vùng đó bị tổn thương, và chức năng liên quan sẽ bị rối loạn. Tình trạng thiếu oxy diễn ra trong hơn 3–4 phút sẽ làm cho các tế bào não chết vĩnh viễn, không thể phục hồi được. Triệu chứng Dấu hiệu và triệu chứng xuất huyết não Dấu hiệu xuất huyết não là gì? Tùy vào vị trí bị xuất huyết trên não bộ mà người bệnh có các triệu chứng xuất huyết não tương ứng. Thông thường, các biểu hiện hay gặp là Đột ngột cảm thấy tê bì cơ mặt, cánh tay hay chân, đặc biệt là chỉ xảy ra ở một bên cơ thể Đột ngột liệt nửa người hoặc méo miệng Đau đầu Buồn nôn và nôn mửa Lú lẫn, không tỉnh táo Chóng mặt, choáng váng Co giật Khó nuốt Mất thị lực hoặc nhìn mờ Mất khả năng thăng bằng và phối hợp vận động Gáy cứng, nhạy cảm với ánh sáng Nói khó hoặc phát âm không rõ ràng Khó đọc, viết hay hiểu những gì người khác nói Mất ý thức hoặc hôn mê Khó thở và nhịp tim bất thường thường thấy ở những người bị xuất huyết ở thân não. Xuất huyết não nhẹ hay nặng? Những trường hợp xuất huyết não nhẹ thường chỉ biểu hiện những triệu chứng như giảm khả năng giao tiếp, không tỉnh táo, rối loạn ý thức và lú lẫn. Những dấu hiệu như co cứng toàn thân, co giật, nôn mửa, sốt thậm chí là hôn mê sâu được xếp vào nhóm bệnh xuất huyết não nặng. Khi bạn nhận thấy người thân có bất kỳ triệu chứng kỳ lạ nào nghi ngờ là dấu hiệu xuất huyết não, hãy gọi điện thoại ngay đến số 115 hoặc đưa họ đến bệnh viện gần nhất. Đây là một tình trạng y tế khẩn cấp, đòi hỏi được can thiệp điều trị ngay lập tức. Dù không thường gặp bằng đột quỵ do thiếu máu não nhưng đột quỵ do xuất huyết gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn. Nguyên nhân Nguyên nhân xuất huyết não là gì? Xuất huyết não có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân, như Chấn thương đầu, có thể do té ngã, tai nạn giao thông, tai nạn thể thao hoặc chịu tác động lực vào đầu Tăng huyết áp vì có khả năng làm tổn thương thành mạch máu hay khiến mạch máu bị rò rỉ hoặc vỡ, đây là nguyên nhân gây xuất huyết não không do chấn thương thường gặp nhất. Vỡ túi phình mạch máu não vị trí thành mạch bị yếu và phình ra thành một túi nhỏ chứa đầy máu Các mảng amyloid tích tụ trong các thành động mạch não thoái hóa mạch máu não dạng bột Dị dạng động tĩnh mạch não có những đoạn nối trực tiếp bất thường giữa các động mạch và tĩnh mạch ở não U não Huyết khối các xoang tĩnh mạch não Rối loạn quá trình đông máu hoặc điều trị bằng liệu pháp chống đông máu uống thuốc chống đông máu Có khối u đè lên các mô não gây chảy máu trong não Hút thuốc, nghiện rượu nặng hoặc sử dụng các chất kích thích khác như cocain khiến cho thành mạch máu yếu đi Các vấn đề liên quan đến mang thai và sinh nở, bao gồm sản giật, bệnh mạch máu sau sinh hoặc xuất huyết não thất ở trẻ sơ sinh Các vấn đề liên quan đến sự hình thành collagen bất thường bên trong thành mạch máu có thể làm cho thành mạch yếu đi và dễ vỡ. Chẩn đoán và điều trị Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ. Phương pháp chẩn đoán xuất huyết não là gì? Ban đầu, bác sĩ sẽ đánh giá các triệu chứng mà bạn đang gặp phải để xác định sơ bộ tình hình. Tuy nhiên, một số người bệnh xuất huyết não nhưng không biểu hiện bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào khiến cho việc chẩn đoán gặp khó khăn. Để xác định được vị trí chảy máu trong não, bác sĩ cần thực hiện một số xét nghiệm, chẳng hạn như Chụp CT hoặc MRI Chọc dò tủy sống Chụp mạch máu não để tìm kiếm các mạch máu phình vỡ hoặc xơ vữa, viêm động mạch, khối u, rách nội mạc động mạch, cục máu đông Ngoài ra, một số xét nghiệm bổ sung khác có thể được thực hiện để chẩn đoán xuất huyết não, bao gồm Điện não đồ, chụp X-quang ngực hay chọc dò tủy sống Xét nghiệm nước tiểu Xét nghiệm công thức máu toàn phần Điều trị bệnh xuất huyết não Bất kỳ loại xuất huyết nào xảy ra trong hộp sọ hay não bộ đều là tình trạng cần được cấp cứu. Nếu bạn hoặc người thân bị chấn thương đầu hoặc có các dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ là xuất huyết não, hãy đến ngay bệnh viện gần nhất hoặc gọi đến 115. Các nhân viên y tế sẽ chuyển bạn đến khu vực cấp cứu và xác định nguyên nhân gây chảy máu rồi tiến hành điều trị. Nếu bệnh nhân đã bị đột quỵ cũng phải làm bước xác định nguyên nhân, xem do xuất huyết hay do cục máu đông để đưa ra phương án phù hợp. Điều trị y khoa kịp thời sẽ hạn chế tổn thương cho các tế bào não, tăng khả năng phục hồi sau xuất huyết. Đôi khi, bác sĩ sẽ đề nghị làm phẫu thuật nếu Máu tụ nhiều bên trong não cần phải được dẫn lưu ra ngoài ngay lập tức để giảm bớt áp lực nội sọ. Phình động mạch não có thể chưa vỡ nhưng cần được can thiệp, gia cố lại thành mạch để ngăn ngừa chảy máu trong tương lai Có dị dạng động tĩnh mạch cần được loại bỏ. Không phải trường hợp nào người bệnh xuất huyết não cũng cần được phẫu thuật. Bác sĩ sẽ xem xét kích thước, nguyên nhân, vị trí xuất huyết, cũng như vài yếu tố khác trước khi đưa ra lựa chọn điều trị phù hợp. Trong quá trình điều trị, bác sĩ có thể Sử dụng thuốc hạ áp để kiểm soát huyết áp Dùng thuốc trị động kinh để kiểm soát cơn co giật Dùng một số loại thuốc khác để kiểm soát những triệu chứng khác, như thuốc giảm đau giúp giảm bớt đau đầu, thuốc làm mềm phân để tránh bị táo bón Truyền chất dinh dưỡng và bù nước qua tĩnh mạch khi cần thiết, có khi sử dụng ống nuôi thông đến dạ dày nếu bệnh nhân gặp khó khăn khi nuốt Quá trình hồi phục ở người bệnh xuất huyết não Khi được điều trị sớm và đúng cách, hầu hết người bệnh đều phục hồi tốt sau khi bị xuất huyết não. Việc phục hồi chức năng não bộ giúp người bệnh trở lại với cuộc sống bình thường. Các phương pháp giúp hỗ trợ quá trình này gồm Vật lý trị liệu Trị liệu ngôn ngữ Thay đổi lối sống để hạn chế nguy cơ bị xuất huyết trong tương lai. Bạn có thể xem thêm Lập kế hoạch chăm sóc bệnh nhân xuất huyết não khi về nhà Phòng ngừa Phòng ngừa xuất huyết não Bạn có thể giảm bớt nguy cơ bị xuất huyết não bằng cách Kiểm soát huyết áp luôn ổn định Giảm nồng độ cholesterol trong máu Giảm cân nếu đang thừa cân, béo phì Hạn chế sử dụng rượu, bia, thuốc lá Xây dựng chế độ ăn uống lành mạnh Tập luyện thể dục thường xuyên, đều đặn Kiểm soát tốt lượng đường trong máu nếu mắc bệnh đái tháo đường Mang đồ bảo hộ nếu tham gia vào các hoạt động thể chất có nguy cơ gây chấn thương, tránh để chấn thương đến vùng đầu Thay đổi lối sống lành mạnh hơn đế giảm thiểu tai biến mạch máu não Những người từng bị xuất huyết não hay đột quỵ sẽ tăng thêm 25% khả năng bị lại tình trạng đó trong tương lai. Do đó, bạn cần chú ý chăm sóc sức khỏe thật tốt và thực hiện các biện pháp bảo vệ não bộ.
Bài viết được viết bởi BSCK I Bùi Thị Hà, Khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long Trẻ sinh non thường gặp rất nhiều bệnh lý như vàng da, viêm phổi, suy hô hấp, nhiễm trùng sơ sinh, chậm phát triển tinh thần và vận động, bệnh võng mạc... do hệ miễn dịch yếu và các cơ quan chưa phát triển hoàn thiện. 1. Trẻ được gọi là sinh non khi nào? Trẻ được gọi là sinh non khi sinh ra dưới 37 tuần tuổi thai là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và di chứng ở sơ sinh. Trẻ sơ sinh ra đời dưới 28 tuần được gọi là sơ sinh cực non, trẻ sinh từ 28 – 34 tuần là trẻ sinh non tháng, trẻ sinh từ 34 – 37 tuần là trẻ sinh non muộn. Trẻ sơ sinh “có thể sống” được bắt đầu từ 22 tuần tuổi thai và cân nặng > 500gram. Trẻ sinh càng non thì nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, thể chất và để lại các di chứng càng cao. Trẻ dễ bị các bệnh nhưSuy hô hấp do phổi chưa trưởng thành, dễ mắc các bệnh viêm phổi, viêm phế quản;Xuất huyết não;Hạ thân nhiệt;Nhiễm trùng sơ sinh;Vàng da;Loạn sản phổi;Bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non;Di chứng chậm phát triển tinh thần, vận động. Trẻ sinh non dễ bị suy hô hấp Suy hô hấp Trẻ sinh non thường mắc bệnh lý suy hô hấp do hệ hô hấp của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh nên trẻ dễ bị suy hô hấp do thiếu chất surfactant, cơ hô hấp của trẻ yếu, trẻ dễ bị các cơn ngừng thở kéo dài >20 giây trong những ngày đầu sau sinh, trẻ khó thở, tím tái sau sinh thường gặp ở trẻ đẻ non dưới 34 tuần. Trẻ hay bị viêm phổi, viêm phế quản... Xuất huyết não sơ sinh Trẻ sinh non thường bị xuất huyết não sơ sinh, do thành mạch dễ vỡ, có thể vỡ bất kỳ các mạch máu nào ở màng não và não. Tỷ lệ gặp ở trẻ sơ sinh cao, đặc biệt là trẻ đẻ non, tỷ lệ tử vong cao. Nếu cấp cứu được thì trẻ thường để lại di chứng cao như bại não, chậm phát triển vận động tinh thần, hẹp hộp sọ, động hiện Trẻ kích thích, bỏ bú, khóc thét, hoặc rên è è, sốt hoặc hạ thân nhiệt, hoặc co giật, li bì, hôn mê. Có thể thấy trẻ tím tái, thóp phồng căng, khớp sọ giãn Xuất huyết não sơ sinh là bệnh lý nguy hiểm ở trẻ sinh non Hạ thân nhiệt Là bệnh lý hay gặp ở trẻ sơ sinh đặc biệt là ở trẻ đẻ non, do quá trình điều hòa bị mất cân bằng, diện tích da/ cân nặng lớn, lượng mỡ dưới da ít đặc biệt là lớp mỡ nâu ít, thiếu năng lượng để chuyển hóa và sinh hiện toàn thân lạnh, da ở tay chân xanh nhợt, khóc yếu ớt, bú kém, giảm hoạt động, thờ ơ. Hô hấp trẻ có khó thở, thở nhanh nông, thở không đều, nặng có thể suy hô hấp, ngừng thở, rối loạn nhịp tim. Nhiễm trùng sơ sinh Trẻ sơ sinh càng non thì hệ miễn dịch càng yếu trẻ càng dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Tỷ lệ nhiễm trùng ở nam và nữ là như nhau. Triệu chứng bệnh thường không điển hình, bệnh thường nặng và nguy cơ tử vong cao. Có thể gặp nhiễm trùng sơ sinh sớm xảy ra trong 3 ngày đầu sau sinh hoặc nhiễm trùng sơ sinh muộn thường xảy ra muộn sau 3 ngày sau sinh.Biểu hiệnNhiệt độ không ổn định có thể sốt hoặc hạ nhiệt thể có sụt hấp Xanh tím, rối loạn nhịp thở, thở rên, thở nhanh > 60 lần/phút + co kéo, ngừng thở > 15 mạch xanh tái, da nổi bông, nhịp tim nhanh > 160 lần/phút, lạnh đầu chi, thời gian hồng trở lại của da kéo dài > 3s, huyết áp hóa Bú kém, bỏ bú, chướng bụng, nôn ói, tiêu chảy, dịch dạ dày ứ > 2/3 số lượng sữa bơm của bữa trước. Gan, lách to. Trẻ bị nhiễm trùng sơ sinh thường có triệu chứng bỏ bú hoặc bú kém Da và niêm mạc Da tái, nổi vân tím, phát ban, xuất huyết, vàng da sớm trước 24 giờ, phù cứng bì, viêm da có mủ, viêm rốn. Có thể có tử ban, tụ máu dưới da, xuất huyết nhiều kinh Tăng hoặc giảm trương lực cơ, dễ bị kích thích, co giật, thóp phồng, giảm phản xạ, hôn mê. Vàng da Vàng da là thường xảy ra ở tất cả các trẻ sinh non, do Bilirubin tăng cao, sắc tố màu vàng được tạo ra trong quá trình thủy phân hồng cầu bình thường. Ở sơ sinh các tế bào hồng cầu luôn được tạo mới và phá hủy diễn ra nhiều hơn, khi hồng cầu bị vỡ giải phóng ra ra hemoglobin, chất này sẽ chuyển hóa tạo thành Bilirubin. Bilirubin sẽ được chuyển hóa tại gan và đào thải ra ngoài qua phân và nước tiểu. Ở trẻ đẻ non chức năng gan của trẻ còn kém nên khả năng Loạn sản phế quản phổi Do phổi của trẻ đẻ non chưa hoàn thiện phải thở máy áp lực cao và thời gian kéo dài, đặc biệt là ở trẻ đẻ non dưới 32 tuần. Khi trẻ bị loạn sản phế quản phổi có thể gây tăng áp lực động mạch phổi, xẹp phổi, xơ phổi, gây nhiễm trùng nặng, suy tim... nguy cơ tử vong hiện Thở nhanh, rút lõm lồng ngực, tím tái, phụ thuộc oxy. Chụp X-quang phổi tùy từng giai đoạn khác nhau mà có hình ảnh khác nhau. Có thể thấy tăng thể tích phổi, sợi, đám mờ, hoặc dạng nang, nhiều vùng ứ khí. Bệnh loạn sản phế quản phổi ở trẻ sinh non rất dễ gây tử vong Bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non Là tình trạng bệnh lý tại mắt do sự phát triển bất thường của mạch máu của trẻ đẻ non, cân nặng thấp. Thường gặp ở trẻ đẻ non thở oxy kéo dài, thở oxy nồng độ cao. Bệnh có thể gây mù lòa nếu không được khám, điều trị kịp thời. Dựa vào khám thực, căn cứ vào các vị trí tổn thương, giai đoạn tiến triển và mức độ giãn của mạch máu võng mạc mà quyết định điều trị hay theo dõi cho trẻ. Hệ miễn dịch yếu Trẻ sơ sinh hệ miễn dịch thường yếu, đặc biệt là trẻ đẻ non mọi cơ quan đều chưa hoàn thiện, chính vì vậy trẻ rất dễ bị mắc nhiều bệnh như viêm đường hô hấp trên, viêm phổi, viêm phế quản... và khi bị bệnh thường khó hồi phục Trẻ sinh non có hệ miễn dịch yếu dễ bị viêm phổi Di chứng chậm phát triển tinh thần, vận động Trẻ sinh non các cơ quan tổ chức phát triển chưa hoàn thiện, trẻ dễ có nguy có bị xuất huyết não, nhiễm trùng nặng...Trẻ sinh non thường để lại các di chứng về vấn đề chậm phát triển khả năng học tập và nhận thức kém, các khiếm khuyết về nhận thức và hành vi thể nhẹ hơn, thiểu năng nặng, bại não, tổn thương thị lực và thính lực, gia mắc các phổ tự hiệnChậm vận động trẻ chậm biết lật, ngồi, bò, đứng, đi khi đến tuổi, chậm phát triển vận động thô ở mức độ biết nói, hoặc khó nói, chậm phát triển trí tuệ, bại thính lực, thị lực. Tỉ lệ này thường gia tăng ở những trường hợp xuất huyết trong não thất hay nhuyễn chất trắng cạnh não thất. 3. Điều trị Trẻ đẻ non tháng có tỷ lệ tử vong và mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với trẻ đẻ đủ tháng. Điều trị trẻ đẻ non luôn là một thách thức đối với các bác sĩ nhi khoa và là vấn đề của toàn xã hội. Ở trẻ sinh non các cơ quan đều chưa hoàn thiện, nên trẻ đối diện với nhiều nguy cơ nên trẻ cần được chuẩn bị đầy đủ về thể chất để sẵn sàng thích nghi với môi trường sống bên ngoài. Tùy theo các nguyên nhân, triệu chứng biểu hiện bệnh lý khác nhau mà có kế hoạch điều trị cụ thể. Ở trẻ đẻ non cần chú ý đến vấn đề chăm sóc, theo dõi trẻ đẻ nonTheo dõi về hô hấp và oxy liệu pháp Trẻ sinh non có nguy cơ thiếu hụt surfactant, dễ xuất hiện những cơn ngừng thở. Nếu không được theo dõi và phát hiện kịp thời trẻ có nguy cơ tử ngừa hạ thân nhiệt giữ nhiệt độ cơ thể bé 36 -37 độ C, chân ấm, hồng. Đảm bảo nhiệt độ cho trẻ bầng cách cho trẻ nằm lồng ấp, giường sưởi, hay cho trẻ tiếp xúc da kề da Chăm sóc KangarooChú ý dinh dưỡng cho trẻ Nên khuyến khích cho trẻ bú mẹ, nếu trẻ không bú được cho trẻ ăn bằng ống thông, hoặc đổ thìa...Theo dõi lượng ăn của trẻ để đảm bảo đủ dinh dưỡng và cung cấp yếu tố vi lượng hàng ngày khi trẻ đã dung nạp tốt sữa mẹ..Đảm bảo môi trường vô khuẩn, sạch sẽ, chú ý vệ sinh tay khi tiếp xúc với trẻ, hạn chế. Nên để trẻ da kề da với mẹ sớm để phòng ngừa hạ thân nhiệt Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã từng tiếp nhận và chữa trị thành công nhiều ca trẻ sinh non đặc biệt có trường hợp sinh cực non trẻ sinh non 24 tuần cân nặng chỉ 600gramĐiều trị và chăm sóc sức khoẻ trẻ sinh non là một trong những kỹ thuật vô cùng phức tạp, nguy cơ rủi ro cao.. Tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, các ca sinh non đều được tổ chức bài bản dưới sự phối hợp của nhiều chuyên khoa khoa sản, khoa gây mê và đặc biệt là khoa sơ sinh, khoa nhi. Việc này giúp hạn chế rủi ro và tăng hiệu quả điều trị đối với những vấn đề về sức khỏe mà trẻ sinh non có thể gặp đó, kỹ thuật điều trị trẻ sinh non tại Vinmec đã thu được những hiệu quả vô cùng tích cực, cứu sống nhiều ca sinh non tưởng chừng như vô vọng Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Video đề xuất Hướng dẫn chiếu đèn điều trị vàng da sơ sinh XEM THÊM Các vấn đề về phổi ở trẻ sinh non Phụ nữ mang thai bị động kinh Phụ nữ mang thai bị động kinh
Hội chứng suy hô hấp do thiếu chất surfactant trong phổi của trẻ sơ sinh, thông thường ở những trẻ sinh ra 2, có mặt phosphatidyl glycerol, chỉ số ổn định bọt = 47, hoặc tỷ số surfactant/albumin là > 55 mg/g. 1. Srinivasan L, Harris MC, Shah SS Lumbar puncture in the neonate Challenges in decision making and interpretation. J Perinatol 366445–453, 2012. doi Tiên lượng với điều trị là rất tốt; tỉ lệ tử vong là < 10%. Với sự hỗ trợ thông khí đầy đủ, chất surfactant dần dần sẽ bắt đầu được sản xuất và một khi sản xuất bắt đầu, RDS sẽ phục hồi trong vòng 4 hoặc 5 ngày. Tuy nhiên, trong thời gian đó, thiếu O2 máu trầm trọng có thể dẫn đến suy đa tạng và tử vong. Sinh non nhiều hơn có liên quan đến nguy cơ cao mắc bệnh phổi mãn tính, loạn sản phế quản phổi hoặc cả hai. Chất hoạt động bề mặt trong khí quản nếu được chỉ địnhO2 hỗ trợ khi cần thiếtThở máy khi cần BeractantPoractant alfaCalfactantLucinactantBeractant là chiết xuất lipid phổi bò lipid bổ sung protein B và C, colfosceril palmitate, axit palmitic, và tripalmitin; liều 100 mg/kg x mỗi 6h và nếu cần có thể đến 4 liều. Poractant alfa là chiết xuất từ phổi có nguồn gốc từ lợn biến đổi có chứa phospholipid, lipit trung tính, axit béo, và các protein gắn kết surfactant B và C; liều là 200 mg/kg, tiếp theo là 2 liều 100 mg/kg cách 12 giờ nếu cần. Calfactant là một chất chiết xuất từ phổi bê có chứa phospholipid, lipit trung tính, axit béo và các protein gắn kết với surfactant B và C; liều là 105 mg/kg mỗi 12 giờ đến 3 liều nếu cần. Lucinactant là một chất hoạt động bề mặt tổng hợp với chất tương tự protein surfactant Bt rong phổi, các peptide sinapultide KL4, phospholipid và axit béo; liều là 175 mg/kg, mỗi 6 giờ, có thể đến 4 liều. Các chất hoạt động bề mặt có nguồn gốc từ động vật thường được coi là tốt hơn các chất bề mặt tổng đàn hồi của phổi có thể cải thiện nhanh chóng sau khi điều trị. Áp suất đỉnh thì thở vào của máy thở có thể cần được hạ xuống nhanh chóng để giảm rủi ro bị rò khí phổi. Các thông số máy thở khác ví dụ, FIO2, tần số cũng có thể cần phải được giảm. 1. Blennow M, Bohlin K Surfactant and noninvasive ventilation. Neonatology 1074330–336, 2015. doi Aldana-Aguirre JC, Pinto M, Featherstone RM, Kumar M Less invasive surfactant administration versus intubation for surfactant delivery in preterm infants with respiratory distress syndrome A systematic review and meta-analysis. Arch Dis Child Fetal Neonancy Ed 1021F17-F23, 2017. doi Hội chứng suy hô hấp RDS là do thiếu chất surfactant, điển hình chỉ xảy ra ở trẻ sơ sinh < 37 tuần thai; tình trạng thiếu hụt surfactant càng nặng khi mức độ non tháng càng thiếu surfactant, các phế nang bị đóng hoặc không mở được, và phổi bị xẹp lan toả, gây viêm và phù việc gây giảm khả năng hô hấp, RDS làm tăng nguy cơ xuất huyết não thất, tràn khí màng phổi, loạn sản phế quản phổi, nhiễm khuẩn huyết, và tử đoán dựa vào lâm sàng và chụp X-quang ngực; Chẩn đoán loại trừ viêm phổi và nhiễm khuẩn huyết bằng cấy máu và dịch tương dự kiến sinh non, đánh giá sự trưởng thành của phổi bằng cách xét nghiệm nước ối đánh giá tỷ số lecithin/sphingomyelin, độ ổn định của bọt, hoặc tỷ số surfactant/ cấp hỗ trợ hô hấp khi cần thiết và điều trị bằng surfactant trong khí quản nếu trẻ sơ sinh cần đặt nội khí quản ngay lập tức hoặc có tình trạng hô hấp tăng lên khi áp lực dương liên cho mẹ một số liều corticosteroid betamethasone, dexamethasone nếu thời gian cho phép phải sinh trong giai đoạn từ 24 tuần đến 34 tuần; corticoid kích thích sản xuất surfactant bào thai và làm giảm nguy cơ và/hoặc mức độ nghiêm trọng của RDS.
Ngày cập nhật 28/12/2020 Tác giả lượt xemMột số trẻ sơ sinh không may gặp phải tình trạng xuất huyết não rất nguy hiểm. Tình trạng này dễ dẫn tới tử vong. Với những trẻ được chạy chữa hiệu quả, tình trạng này cũng có thể để lại di chứng. Vì vậy, nhiều bậc cha mẹ và người thân của trẻ rất muốn tìm hiểu về di chứng xuất huyết não ở trẻ sơ sinh cũng như mức độ nghiêm trọng của vấn với trường hợp đẻ non, đẻ khó, đẻ thủ thuật nên đỡ đẻ cẩn thận, nên tiêm vitamin K phòng tránh chảy Thế nào là di chứng xuất huyết não?Xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là tình trạng lớp màng xương sọ của trẻ bị xuất huyết. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tử vong, thường xảy ra đối với trường hợp đẻ non, thường gặp ở sản phụ cao tuổi sinh non. Tỷ lệ phát bệnh ở bé trai nhiều hơn bé xuất huyết não ở trẻ sơ sinh thường xảy ra sau khi sinh 3 ngày, thời gian mắc bệnh nhanh nhất là sau khi sinh 2 tiếng. Theo một nghiên cứu về tình trạng xuất huyết não ở trẻ sơ sinh đủ tháng cho kết quả từ 2 – 5/ trẻ sinh bị xuất huyết não không có triệu chứng. Điều này cho thấy mức độ nguy hiểm của tình trạng huyết não ở trẻ sơ sinh là tình trạng lớp màng xương sọ của trẻ bị xuất huyết2. Biểu hiện của di chứng xuất huyết nãoNếu trẻ sơ sinh mắc bệnh xuất huyết não, tỷ lệ tử vong là rất cao từ 25-40%. Những trẻ mắc bệnh thường bị tổn thương thần kinh, để lại di đó, các trường hợp may mắn không tử vong thường để lại các di chứng nghiêm trọng như– Động kinh– Liệt vận động– Chậm phát triển tinh thần– Ứ nước não thất, khiến trẻ bị tàn tật suốt Dấu hiệu nào cảnh báo bệnh xuất huyết não ở trẻ sơ sinh?– Hệ thống thần kinh trung ương hưng phấn trẻ cảm thấy buốn bực, phát ra tiếng rên, có những trẻ còn phát ra tiếng hét, có những trẻ 2 mắt nhìn trừng trừng về một hướng, nét mặt hiện lên vẻ sợ hãi.– Những trẻ sơ sinh mắc bệnh này thở tương đối nhanh, không theo quy tắc, thậm chí nhịp thở không đều.– Mặt và thể trạng xanh xao.– Hay trớ khi mắc bệnh từ 3 đến 5 ngày, bệnh thường có hiện tượng chuyển biến tốt, nếu không sẽ chuyển sang trạng thái ức chế. Có một số trường hợp chảy máu tương đối nghiêm trọng, ngay thời kỳ đầu đã xuất hiện trạng thái ức chế, có biểu hiện thèm ngủ, không ăn, sắc mặt nhợt nhạt, thậm chí hôn mê dẫn đến tử trường hợp may mắn không tử vong thường để lại các di chứng nghiêm trọng cho trẻ. 4. Cách đề phòng xuất huyết não ở trẻ sơ sinh– Bà mẹ trong thời gian mang thai phải chú ý giữ gìn sức khỏe, kiểm tra cẩn thận trước khi sinh, kịp thời xử lý các bệnh mắc phải khi mang thai, kiểm soát tốt các bệnh vốn đang có trong người từ trước. Điều này giúp tránh để xảy ra tình trạng sinh non, sinh khó.– Đối với trường hợp đẻ non, đẻ khó, đẻ thủ thuật nên đỡ đẻ cẩn thận, nên tiêm vitamin K phòng tránh chảy máu. Trong quá trình sinh đẻ không được lạm dụng thuốc kích đẻ và thuốc khống chế hệ thần kinh trung ương. Nắm vững các thủ thuật trợ sản cũng là một trong những cách để giảm thiểu tỉ lệ trẻ xuất huyết sọ não. Nếu nhận thấy biểu hiện nghi vấn trẻ mắc bệnh phải đưa đi khám ngay để chữa trị kịp thời.– Đối với trẻ đẻ non, đẻ khó hoặc khi đẻ ra trẻ bị ngạt thở, sau khi sinh nên tiêm vitamin K và vitamin C…Bài viết trên của chúng tôi đã cung cấp các thông tin chi tiết về di chứng xuất huyết não xảy ra ở trẻ sơ sinh. Nếu có bất kỳ thắc mắc gì, hãy đến các bệnh viện uy tín để được bác sĩ chuyên môn tư vấn và có phương pháp điều trị sớm.
bệnh xuất huyết não ở trẻ sơ sinh